33 Phút Cuối Cùng

Chương 4



“Rõ.”

“Được. Từ mai bắt đầu, cô phụ trách giường số ba và giường số bảy.”

Giường số ba là một bà cụ sốc nhiễm khuẩn, giường số bảy là một thanh niên bị chấn thương sọ não nặng.

Tôi đi đến bên giường họ.

Trên đầu giường số ba không có chữ.

Trên đầu giường số bảy cũng không có chữ.

Tạm thời an toàn.

Hai tuần tiếp theo, những ngày ở EICU phong phú hơn tôi tưởng rất nhiều.

Phương Chính Thanh dạy không hề qua loa như Triệu Duệ Minh—ông thật sự dạy. Theo dõi huyết động học xem thế nào, thông số máy thở điều chỉnh ra sao, thuốc vận mạch chuẩn liều thế nào, khi nào làm siêu âm tại giường để đánh giá thể tích tuần hoàn…

Ông giảng rất nhanh, không lặp lại, giảng xong là kiểm tra. Trả lời không được ông sẽ không mắng, nhưng sẽ dùng một ánh mắt kiểu “cô về đọc sách đi” nhìn tôi.

Ánh mắt đó còn đáng sợ hơn bị mắng.

Tôi liều mạng đọc sách, liều mạng ghi chép.

Mỗi ngày ngủ bốn năm tiếng.

Nhưng trạng thái ngược lại còn tốt hơn lúc ở khoa Cấp cứu thông thường.

Bởi vì ở đây không ai xem thường tôi.

Phương Chính Thanh dùng tôi như nửa bác sĩ nội trú. Ông dám buông tay để tôi làm thao tác xâm lấn—dưới sự giám sát toàn trình của ông. Chọc tĩnh mạch sâu, đặt catheter động mạch, dẫn lưu kín khoang màng phổi…

“Tay rất vững.” Có một lần ông nói, “Kiểu tuyển thủ thiên phú.”

Đó là lời khen cấp cao nhất từ cấp trên mà tôi từng nghe.

Ngày tám tháng mười một.

Ngày thứ mười hai vào EICU.

Sáng hôm đó, Phương Chính Thanh không có mặt. Ông đến tỉnh dự hội nghị học thuật, để lại một bác sĩ nội trú ba năm kinh nghiệm tên Trình Dục trông khoa.

Trình Dục ba mươi mốt tuổi, mặt dài, đeo kính, tính tình ôn hòa, thuộc kiểu người tốt không nổi bật cũng không phạm sai lầm.

Anh ta nói với tôi: “Hôm nay chắc không có chuyện gì, ca đau ngực nhập vào tối qua đã loại trừ ACS rồi, chỉ chờ chuyển về phòng bệnh thường.”

Tôi “ừ” một tiếng, đi thay thuốc cho giường số bảy.

Mười giờ rưỡi.

Phòng cấp cứu gọi điện, muốn chuyển một bệnh nhân mới vào EICU.

Suy đa cơ quan, nghi ngờ trúng độc.

Trình Dục nghe điện thoại, nhíu mày: “Trúng độc? Độc gì?”

“Không xác định. Bệnh nhân là nữ, ba mươi hai tuổi, sáng nay được đồng nghiệp phát hiện hôn mê trong văn phòng. Hiện tại huyết áp thấp, rối loạn nhịp tim, chức năng đông máu sụp đổ toàn diện. Bên cấp cứu không giữ ổn định được nữa, yêu cầu chuyển lên.”

“Được, nhận.”

Mười một giờ, giường chuyển bệnh được đẩy vào.

Bệnh nhân được đẩy đến giường số chín. Tôi đi sau Trình Dục treo dịch, nối máy theo dõi.

Tôi ngước mắt nhìn một chút.

Một người phụ nữ trẻ, ba mươi hai tuổi, trang điểm tinh tế nhưng đã bị mồ hôi và mặt nạ oxy làm nhòe đi. Môi trắng bệch, tứ chi lạnh ngắt, nhịp tim trên máy theo dõi là 143 lần một phút, huyết áp 72 trên 45.

Sau đó tôi nhìn thấy dòng chữ trên đỉnh đầu cô ấy.

【Trúng độc thuốc diệt chuột bromadiolone. Cạn kiệt yếu tố đông máu. Đếm ngược xuất huyết đa cơ quan: 4 giờ 17 phút.】

Bốn giờ mười bảy phút.

Không quá gấp. Nhưng nếu phán đoán sai hướng, bốn tiếng sẽ trôi qua trong chớp mắt.

Thông tin mấu chốt: bromadiolone.

Đây là một loại thuốc diệt chuột chống đông thế hệ thứ hai. Thời gian bán hủy cực dài, có thể lên đến vài tuần. Nó sẽ làm cạn kiệt các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K, dẫn đến xuất huyết toàn thân ở các cơ quan.

Nếu không biết là độc chất này, xử lý theo quy trình trúng độc thông thường—căn bản không kịp.

Mà thông tin này, nếu dựa vào xét nghiệm độc chất học thông thường, ít nhất phải một hai ngày mới có kết quả.

Tôi nhìn Trình Dục.

Anh ta đang lật hồ sơ chuyển đến từ khoa Cấp cứu, mày nhíu chặt: “Rối loạn đông máu không rõ nguyên nhân… INR lớn hơn 10? Cái này cũng quá vô lý rồi. DIC? Nhưng DIC thường có nguyên nhân nhiễm trùng hoặc chấn thương mà…”

“Thầy Trình.” Tôi mở miệng, “Có thể nào là trúng độc thuốc diệt chuột chống đông không?”

Anh ta ngẩng đầu nhìn tôi, sững ra một chút: “Cái gì?”

 

“Bromadiolone.” Tôi nói, “Thuốc diệt chuột chống đông thế hệ thứ hai. Sẽ dẫn đến cạn kiệt toàn diện các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K, biểu hiện chính là INR bùng nổ, xuất huyết ở các hệ cơ quan. Nếu là cái này, cần tiêm tĩnh mạch vitamin K1 liều cao cộng với huyết tương tươi đông lạnh để bổ sung yếu tố đông máu.”

Trình Dục đẩy kính: “Căn cứ đâu?”

“INR lớn hơn 10 nhưng fibrinogen bình thường, tiểu cầu bình thường—không giống DIC. DIC đáng lẽ là tiêu thụ toàn diện, fibrinogen thấp, tiểu cầu thấp. Cô ấy chỉ có đường đông máu sụp đổ, tiểu cầu và fibrinogen vẫn còn. Điều này giống đối kháng vitamin K đơn thuần hơn.”

Trình Dục im lặng mấy giây, mắt quét qua lại trên phiếu xét nghiệm.

“… Cô nói hình như có lý.”

“Hơn nữa cô ấy ba mươi hai tuổi, không có tiền sử bệnh gan, không dùng warfarin, rối loạn đông máu đột ngột—khả năng trúng độc rất lớn. Có thể thử tiêm một mũi vitamin K1 trước để xem phản ứng, đồng thời gửi xét nghiệm độc chất.”

“Dùng thuốc thử nghiệm? Việc này… chủ nhiệm Phương không có ở đây, tôi phải xin chỉ thị một chút.”

Anh ta cầm điện thoại gọi cho Phương Chính Thanh.

Điện thoại của Phương Chính Thanh vang bốn năm tiếng mới bắt máy.

“Trình Dục? Chuyện gì?”

Trình Dục thuật lại tình hình một lượt, sau đó nói: “Thẩm Yến nghi ngờ là trúng độc bromadiolone, đề nghị dùng thử vitamin K1—”

Đầu dây bên kia im lặng một thoáng.

“Thẩm Yến ở bên cạnh?”

“Ở đây.”

“Đưa điện thoại cho cô ấy.”

Tôi nhận lấy.

“Chủ nhiệm Phương.”

“Vì sao cô nghĩ đến thuốc diệt chuột?”

“INR bùng nổ nhưng fibrinogen và tiểu cầu bình thường, không phù hợp kiểu tiêu thụ của DIC. Thiếu hụt yếu tố đông máu thuần túy, nguyên nhân ngoại sinh thường gặp nhất chính là chất đối kháng vitamin K. Cô ấy còn trẻ, không có bệnh gan, không dùng thuốc chống đông—lựa chọn còn lại chính là trúng độc. Thuốc diệt chuột là độc chất đối kháng vitamin K thường gặp nhất.”

“Ừ.” Trong giọng ông có một tia hài lòng, “Cô nói đúng. Xử lý theo hướng này. Vitamin K1 trước tiên cho 10 miligam tiêm tĩnh mạch chậm, đồng thời truyền FFP chỉnh đông máu. Nói với Trình Dục là tôi đồng ý. Ngoài ra—liên hệ người nhà và đơn vị của cô ấy, điều tra rõ nguồn độc chất. Chuyện kiểu này, không phải tự sát thì là bị giết.”

“Rõ.”

Cúp điện thoại.

Trình Dục đã nghe được chỉ thị của Phương Chính Thanh, nhanh nhẹn bắt đầu ra y lệnh.

Tôi lấy sổ ghi chép điều dưỡng, đánh dấu một dòng: Giường số chín, nghi trúng độc bromadiolone.

Sau đó đi liên hệ đơn vị của bệnh nhân.

Một tiếng sau, vitamin K1 đã tiêm xong.

Hai tiếng sau, kiểm tra lại INR—từ lớn hơn 10 giảm xuống còn 6,2.

Hướng đúng rồi.

Trình Dục thở phào một hơi, ánh mắt nhìn tôi thay đổi.

“Thẩm Yến, đầu óc cô mọc thế nào vậy?”

Tôi không trả lời, vì tôi nhìn thấy đếm ngược trên đỉnh đầu giường số chín đang kéo dài.

Từ bốn tiếng biến thành mười hai tiếng, sau đó biến thành hai mươi bốn tiếng.

Cuối cùng chữ chậm rãi mờ đi, biến mất.

Thoát nguy rồi.

Hai giờ chiều, người của đơn vị bệnh nhân đến. Là quản lý trực tiếp của cô ấy.

Cảnh sát cũng đến.

Bởi vì báo cáo của chúng tôi—trúng độc không rõ nguyên nhân, nghi có người đầu độc.

Sau này tôi nghe nói về diễn biến tiếp theo: chồng của người phụ nữ đó liên tục trong một tháng bỏ một lượng nhỏ thuốc diệt chuột bromadiolone vào cốc nước của cô ấy. Liều lượng không lớn, mỗi ngày một ít, tích lũy mạn tính, cho đến hôm đó hệ thống đông máu hoàn toàn sụp đổ.

Là cố ý giết người.

Nếu chúng tôi không phán đoán ra là trúng độc thuốc diệt chuột, xử lý theo DIC thông thường, cô ấy sẽ trong hàng loạt biện pháp cấp cứu vô hiệu, vừa xuất huyết nội vừa cạn kiệt những yếu tố đông máu cuối cùng.

Nguyên nhân tử vong sẽ được viết thành “suy đa cơ quan, nguyên nhân không rõ”.

Người chồng sẽ nhận được tiền bảo hiểm.

Một tội ác hoàn hảo.

Ngày Phương Chính Thanh từ tỉnh trở về, Trình Dục báo cáo chuyện này với ông.

Phương Chính Thanh nghe xong, mặt không cảm xúc, chỉ nói một câu: “Tôi trở về còn có tác dụng gì nữa? Thẩm Yến làm luôn việc của tôi rồi.”

Trình Dục cười gượng.

Phương Chính Thanh nhìn tôi một cái.

Không phải kiểu nhìn tức giận.

Mà là kiểu chắc chắn—“quả nhiên tôi không nhìn lầm người”.

“Từ mai bắt đầu.” Ông nói, “Ngoài giường số ba và số bảy, giường số chín cũng do cô quản. Ngoài ra—tuần sau có thảo luận ca bệnh cấp cứu toàn viện, ca này cô báo cáo. PPT tự làm.”

Thảo luận ca bệnh toàn viện.

Bác sĩ quy bồi làm báo cáo.

Đây là chuyện chưa từng có.

【Chương 5】

Buổi thảo luận ca bệnh cấp cứu toàn viện.

Phòng họp có hơn bốn mươi người ngồi. Khoa Cấp cứu, khoa Tim mạch, khoa Hồi sức tích cực, khoa Xét nghiệm, khoa Dược, khoa Thần kinh… khoa nào cũng có đại diện.

Người đứng trên bục thường là bác sĩ cấp điều trị chính trở lên.

Hôm nay người đứng trên đó là tôi.

Tay áo blouse xắn đến khuỷu tay, trang đầu tiên của PPT sáng lên trên màn hình lớn phía sau—

“Một ca rối loạn chức năng đông máu do trúng độc bromadiolone”

Người báo cáo: Thẩm Yến, bác sĩ quy bồi khoa Cấp cứu.

Tôi có thể cảm nhận được sự khác thường trong mấy chục đôi mắt phía dưới.

 

Có tò mò, có nghi ngờ, cũng có vài phần khinh thường không hề che giấu kiểu “bác sĩ quy bồi cũng có thể lên bục à?”.

Hàng trước, vị trí thứ ba bên trái, Triệu Duệ Minh đang ngồi.

Sắc mặt anh ta rất khó coi.

Tôi không để ý đến anh ta, bắt đầu nói.

Từ dấu hiệu sinh tồn khi bệnh nhân nhập viện, đến phân tích từng kết quả xét nghiệm, đến quá trình loại trừ chẩn đoán phân biệt, rồi đến phương án điều trị cuối cùng và chuyển biến.

Logic rõ ràng, dữ liệu đầy đủ, tốc độ nói ổn định.

Khi nói đến trang chẩn đoán phân biệt mấu chốt, tôi dừng một chút.

“Ca bệnh này dễ bị chẩn đoán nhầm thành DIC. Nhưng biểu hiện kinh điển của DIC đáng lẽ phải là bệnh đông máu tiêu thụ—fibrinogen giảm, tiểu cầu giảm, D-dimer tăng rõ. Còn bệnh nhân trong ca này có fibrinogen 2,8 gam trên lít, bình thường; tiểu cầu 231 nhân 10 mũ 9, bình thường; chỉ có PT và INR kéo dài cực độ, APTT kéo dài mức trung bình. Điều này cho thấy rối loạn đông máu giới hạn ở các yếu tố phụ thuộc vitamin K.”

Dưới bục có người gật đầu.

Cũng có người cúi đầu lật phần tóm tắt ca bệnh trong tay, đối chiếu dữ liệu của tôi.

Tôi tiếp tục.

“Xét thấy bệnh nhân là nữ trẻ tuổi, không có bệnh lý gan, không dùng thuốc chống đông, hơn nữa khởi phát âm thầm, tiến triển nhanh, trúng độc chất đối kháng vitamin K ngoại sinh nên được đặt lên hàng đầu. Sau khi thử điều trị bằng vitamin K1 đường tĩnh mạch, hai giờ sau INR từ lớn hơn 10 giảm xuống 6,2, xác nhận phán đoán này. Xét nghiệm độc chất sau đó xác nhận là bromadiolone.”

PPT chuyển đến trang cuối: quá trình điều trị và chuyển biến.

“Sau ba tuần điều trị vitamin K1 liều cao liên tục, chức năng đông máu của bệnh nhân khôi phục hoàn toàn. Giám định tư pháp xác nhận sự thật chồng bệnh nhân đầu độc, hiện đã bị phê chuẩn bắt giữ.”

Tôi khép bút trình chiếu lại.

“Trên đây là báo cáo của tôi, mong các thầy cô chỉ bảo.”

Yên tĩnh hai giây.

Sau đó tiếng vỗ tay vang lên.

Không phải kiểu vỗ tay lác đác, qua loa. Mà là sự công nhận thật sự.

Chủ nhiệm khoa Xét nghiệm ngồi hàng sau là người đầu tiên giơ tay đặt câu hỏi: “Bác sĩ Thẩm, lúc đó cửa sổ thời gian phán đoán của cô chỉ có bao lâu?”

“Từ lúc tiếp nhận bệnh nhân đến khi quyết định dùng thuốc thử nghiệm, khoảng mười lăm phút.”

“Trong vòng mười lăm phút loại trừ DIC, suy gan, thiếu hụt yếu tố đông máu bẩm sinh, khóa vào trúng độc thuốc diệt chuột—cô làm sao đạt được tốc độ này?”

Tôi suy nghĩ một chút.

Chương trước Chương tiếp
Loading...